Xuất hiện trên thị trường được khoảng vài tháng, thiết bị phát sóng WiFi từ USB 3G bắt đầu trở thành một giải pháp công nghệ mới mà nhiều người tiêu dùng lựa chọn. Giải pháp mới giúp chiếc USB 3G phát ra sóng WiFi khá mạnh và có thể chia sẻ cho nhiều thiết bị như máy tính bảng, laptop, điện thoại cùng sử dụng. Phát WiFi trên xe Việc xuất hiện thiết bị phát sóng WiFi từ USB 3G thực sự trở thành giải pháp công nghệ tiện dụng. Anh Long, một doanh nghiệp kinh doanh ngành hàng công nghệ ở quận 5, cho biết công việc của anh đi lại nhiều và thường phải sử dụng nhiều thiết bị như laptop, máy tính bảng, điện thoại. Tuy nhiên, không phải thiết bị nào cũng có 3G nên anh gặp nhiều khó khăn. Anh cho biết trước đây có nghiên cứu sử dụng điện thoại phát WiFi thế nhưng thấy không ổn vì điện thoại mau hết pin và hơi nóng. Xem trên mạng thấy xuất hiện các dòng thiết bị phát sóng WiFi từ USB 3G, anh quyết định mua một chiếc sử dụng. Hiện nay, trên xe hơi của anh lúc nào cũng có sẵn một thiết bị phát sóng. Mỗi lần đi đâu xa, cả gia đình anh người thì xài máy tính bảng, người thì xài laptop đều có thể bắt WiFi và lướt web khá dễ dàng. Nhiều người “ngoại đạo” của công nghệ cũng săn lùng các thiết bị phát WiFi độc đáo này. Theo bạn Phan Huy Anh Tuấn, sinh viên Trường ĐH Giao thông vận tải, là sinh viên nghèo, việc truy cập WiFi để học tập với Tuấn và các bạn học cùng phòng là cực hình. Phần lớn các thiết bị công nghệ của các bạn dùng đều là sản phẩm giá rẻ không có 3G. Sóng WiFi thì phần lớn bị khóa mật mã, xài ké sóng thì khi có khi không. Xem trên mạng thấy có thiết bị phát sóng WiFi, cả phòng Tuấn quyết định hùn tiền mỗi người 200.000 đồng để mua một cái về sử dụng. “Hiện nay mỗi tháng, bốn người trong phòng em xài Wi-Fi thoải mái nhưng chỉ tốn khoảng 20.000 đồng, chia ra mỗi người tốn chưa đến 5.000 đồng để có thể sử dụng các laptop và máy tính bảng. Em thấy thiết bị này rất có lợi thế nhưng nhiều bạn bè vẫn chưa biết đến để dùng” - Tuấn chia sẻ. Có thể dùng làm cục sạc điện thoại Hiện nay thiết bị phát sóng WiFi từ USB 3G đang trở thành mặt hàng “hot” được nhiều người quan tâm. Theo khảo sát, các thiết bị phát sóng WiFi có kích thước bằng chiếc bật lửa hoặc có thể to hơn với nhiều chủng loại. Bao gồm các loại giá rẻ và cả các dòng cao cấp, một số thương hiệu được nhiều người ưa chuộng là TP link Tenda, Hame.... Chi phí mua một thiết bị trung bình là khoảng 500.000 đến 1,2 triệu đồng tùy theo thương hiệu và dung lượng pin. Thế nhưng ngoài mua thiết bị người tiêu dùng phải mua thêm một chiếc USB 3G, muốn sử dụng được chỉ cần mua thêm một chiếc USB, cả hai thiết bị sẽ có giá khoảng trên dưới 1 triệu đồng. Để bảo đảm tính bảo mật, người dùng có thể thiết lập tên thiết bị và password một cách khá đơn giản. Điều đặc biệt là ngoài chức năng là một chiếc máy phát WiFi, thiết bị còn có chức năng là một chiếc sạc điện thoại dự phòng dành cho iPhone và các loại smartphone khác. Trung bình lượng pin của thiết bị có thể hoạt động từ 6 đến 8 tiếng, sạc đầy cho một chiếc điện thoại.
(Nguồn tin: Theo Vnmedia.vn)
|
Hiển thị các bài đăng có nhãn Network. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Network. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013
Biến USB 3G thành máy phát wifi trong nháy mắt
Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013
Cách cài đặt Router wifi TP-Link WR340G
Router wifi TP-Link WR340G là thiết bị kết nối giữa modem fpt và máy tính/điện thoại.
Router wifi TP-Link WR340G có chức năng phát tín hiệu sóng wifi từ đường truyền Internet của các nhà mạng phát ra cho các laptop, ipad, máy điện thoại... bắt sóng.
Ngoài ra, Router wifi TP-Link WR340G còn có khả năng chia cổng như 1 chiếc Switch chia cổng cho tối đa 4 máy tính bàn sử dụng Internet.
Một số hình ảnh về Router wifi TP-Link WR340G
| |
- Phạm vi phát sóng của Router wifi TP-Link WR340G có bán kính từ 100- 150 mét.
Cài đặt
Bước 1: Truy cập: http://192.168.1.1
- Nếu bạn không truy cập được hãy lấy 1 chiếc tăm nhỏ cắm vào lỗ reset đằng sau Router wifi TP-Link WR340G nhé. Bạn chú ý, giữ chặt chiếc tăm để đúng 15s để chắc chắn rằng nó được reset lại từ đầu. Bạn hãy truy cập lại http://192.168.1.1 chắc chắn được rùi bạn nhé.
Bước 2: Đổi địa chỉ IP từ 192.168.1.1 thành 192.168.0.1
- Bằng cách bấm vào Network → LAN. Bạn nhìn thấy dòng IP address chứ? Hiện tại mặc định của nó là 192.168.1.1 hãy chuyển nó sang 192.168.0.1, sau đó Save lại.
- Công việc của bạn là chờ khoảng 20 giây, để hệ thống nó tự động điều chỉnh lại.
Bước 3:
- Sau khi nó đã tự động điều chỉnh lại thì hãy truy nhập use: admin và pass: admin để tiếp tục vào hệ thống.
- Tiếp đến bạn vào mục Network → WAN, sau đó đổi cái dòng Dynamic IP thành Static IP. Đừng quên bấm OK.
Bạn có thể đặt mật khẩu bằng cách vào mục Securrity, hoặc nếu không thích thì tốt bụng để cho hàng xóm vào mạng cùng với bạn, nhưng lưu ý nếu không đặt mật khẩu thì người khác vào trộm là mạng sẽ yếu đi đấy.
- Bạn có thể tắt toàn bộ đi, khởi động lại là có thể vào mạng bình thường được rùi.
Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013
Tài liệu học môn quản trị mạng windows server 2003 (MCSA+MCSE...)
Tiếng Việt:
1. Tài liệu dạy QTM Windows Server 2003 - Trường ĐH KHTN [Download]2. Bài tập thực hành dịch vụ Mạng Server 2003 - Trường ĐH KHTN [Download]3. Thiết lập và quản trị hệ thống thư điện tử MDAEMON [Download] 4. Kỹ năng phân tích sự cố và bảo mật hệ thống trong Win2k3 [Download]5. Quy trình cấu hình DHCP trên máy chủ File Server [Download]
6. Hướng dẫn Thiết lập 2 Domain Controller chạy song song [Download]
7. Sách Lab 70-620 (Windows Vista, Configuring) - VSIC [Download]
8. Sách Lab 70-270 (Windows XP Pro) - VSIC [Download]9. Sách Lab 70-290 (Manage & Maintain Server 2k3 Environment) - VSIC [Download]10. Sách Lab 70-291 (Server 2k3 Network Infrastructure) - VSIC [Download]Tiếng Anh:1. MDAEMON Email Server - Product Guide [Download]2. MCSA/MCSE Windows XP Professional - Study Guide [Download]3. MCSE Self-Paced Training Kit (70-293/294/297/298) [Download]4. Windows Server 2008 - Developer Training Kit Beta 3 (HOT!) [Download]
Nhãn:
Lý Thuyết CCNA,
mang,
Network,
Tài Liệu
Cách quản trị Windows Server 2003 từ máy trạm Windows XP
Bạn cảm thấy mệt mỏi với việc phải di chuyển qua lại giữa văn phòng làm việc với phòng máy chủ để thực hiện những nhiệm vụ cần thiết cho mạng của công ty? Với bài hướng dẫn này, bạn có thể tải các công cụ quản trị mạng về chính máy trạm XP của mình, thực hiện các thao tác với máy chủ một cách nhanh chóng và hiệu quả. Windows Server 2003 ra mắt với rất nhiều các công cụ quản trị mạng mạnh mẽ và phong phú. Bạn có thể sử dụng chúng để cấu hình máy chủ thực hiện những nhiệm vụ cần thiết. Thường thì bạn phải ngồi trước máy chủ và thực hiện các thao tác quản lý hoặc tối thiểu là kết nối từ xa tới máy chủ. Điều này có thể làm chậm và khá không thuận tiện, nó làm cho khó có thể thực hiện các nhiệm vụ cần thiết một cách nhanh chóng.
May thay, sử dụng các công cụ tích hợp được giới thiệu trong Windows Server 2003, bạn có thể chạy các công cụ quản trị trực tiếp từ một trạm làm việc. Tất cả những gì phải làm là tải về một vài công cụ từ đĩa CD Windows Server 2003. Còn đây là cách thực hiện.
Đầu tiên, hãy chắc chắn là máy trạm dùng để quản lý của bạn sử dụng Windows XP Service Pack 1 hoặc các phiên bản sau này. Nếu sử dụng Windows 2000 Professional hay Windows 9x trên máy trạm quản trị thì có thể sẽ gặp lỗi.
Tiếp theo, bạn cần tìm đĩa CD Windows Server 2003 gốc. Đưa nó vào máyWindows XP mà bạn tính sẽ sử dụng làm máy trạm quản lý. Vào cửa sổ lệnh và gõ vào câu lệnh sau:
msiexec /i x:\i386\adminpak.msi
với x: là ký tự ổ đĩa CD-ROM, sau đó nhấn Enter. Nếu cài đặt không bắt đầu đúng cách, kiểm tra file ADMINPAK.MSI trong thư mục I386 nằm trong ổ CD-ROM. Nếu nó không có trong thư mục đó, bạn có thể phải chọn lại đĩa cài đặt vì trong Windows Server 2003 Small Bussiness Edition file cần thiết nằm trong đĩa 1.
Khi có quá trình cài đặt bắt đầu, bạn sẽ thấy một màn hình cài đặt Windows xuất hiện. Bạn không phải lo lắng nhiều về việc cài đặt này, nó rất đơn giản chỉ cần thực hiện theo hướng dẫn đưa ra để cài đặt các công cụ. Sau khi mọi việc được thực hiện xong, chỉ cần kích Finish.
Sử dụng công cụ
Sau khi kích Finish, bạn có thể bắt đầu sử dụng công cụ mà không cần khởi động lại máy trạm quản trị. Tuy nhiên trước khi bắt đầu sử dụng công cụ, bạn vẫn cần phải logoff và logon lại vào mạng. Hãy đảm bảo bạn đã log vào máy trạm với tài khoản người dùng có quyền Domain Admin trong mạng. Bạn có thể sẽ cần thêm một vài quyền khác để có thể thực hiện được mọi công việc cần thiết trong mạng. Trong trường hợp đó, người dùng sẽ cần quyền quản trị trên máy trạm tương đương với quyền thực hiện nhiệm vụ tương tự trên máy chủ.
Bạn có thể tìm thấy các công cụ bằng cách kích vào Start | All Programs |Administrative Tools. Trong thư mục này, bạn sẽ tìm thấy các công cụ mới được thêm xen vào giữa những công cụ chuẩn của Windows XP.
Hình 1: Bạn sẽ tìm thấy các công cụ mới trong thư mục Administrative Tools.
Như bạn thấy trên hình, có thể thực hiện mọi thứ như máy chủ từ máy trạm trong văn phòng của bạn. Các công cụ được cho như sau:
- Active Directory Users And Computers
- Active Directory Sites And Services
- DHCP Manager
- DNS Manager
- Terminal Services Manager
- Cluster Administrator
Các công cụ này chạy trên máy trạm cũng giống như sử dụng trên máy chủ. Bạn có thể thấy một sự trễ nhỏ khi chạy các công cụ bởi tiện ích này phải truy cập máy chủ thông qua mạng, do đó đương nhiên sẽ chạy chậm hơn một chút so với chạy trực tiếp trên bản thân máy chủ.
Khi sử dụng một trong những công cụ này, bạn có thể nhận được nhắc nhở kết nối tới một máy tính (như hình 2). Hãy đảm bảo kết nối đúng tới tên và địa chỉ IP của máy chủ mà bạn muốn quản lý. Không chọn phần This Computer vì bạn đang sử dụng một máy trạm quản trị, các dịch vụ cần thiết sẽ không nằm trên máy này mà nằm trên máy kết nối tới.
Hình 2: Hãy đảm bảo kết nối tới máy tính thích hợp.
Một vài công cụ mới
Bạn có thể lưu ý trong danh sách các công cụ xuất hiện trên máy trạm có cả những công cụ không có trên chính máy chủ. Các công cụ đó bao gồm:
Bạn có thể lưu ý trong danh sách các công cụ xuất hiện trên máy trạm có cả những công cụ không có trên chính máy chủ. Các công cụ đó bao gồm:
- Active Directory Management
- Public Key Management
- IP Address Management
Các công cụ này được gọi là Convenience Consoles, thực tế chúng là bảng điều khiển quản trị và là tập hợp của các công cụ quản trị thường dùng. Ví dụ như Active Directory Management (hình 3) là một nhóm các tiện ích Active Directory Users And Computers, Active Directory Domains And Trusts, Active Directory Sites And Services, và DNS Manager đặt trong cùng một giao diện.
Hình 3: Nhóm Convenience Consoles bao gồm các công cụ phổ biến thường dùng
IP Address Management (hình 4) là hợp nhất của DHCP Manager, DNS Manager, và WINS Manager. Bạn sẽ cần đến những tiện ích này khi quản trị dịch vụ IP trong mạng.
Hình 4: IP Address Management giúp bạn quản trị được TCP/IP trong mạng
Cuối cùng, Public Key Management (hình 5) nhóm các công cụ the Certification Authorities, Certificate Templates, Certificates For Current User, và Certificates For Local Computer lại với nhau.
Hình 5: Public Key Management giúp bạn quản trị các chứng thực
Nâng cao khả năng quản trị hơn nữa với Support Tools
Sau khi đã có các chương trình quản trị chạy trên máy trạm, bạn cũng có thể thêm một vài công cụ mạnh mẽ hơn bằng cách tải về Support Tools. Đầu tiên bạn cần tìm đĩa CD Windows Server 2003 gốc. Đưa đĩa vào máy Windows XP đang sử dụng để làm máy trạm quản trị. Tại cửa sổ lệnh bạn gõ lệnh sau:
Sau khi đã có các chương trình quản trị chạy trên máy trạm, bạn cũng có thể thêm một vài công cụ mạnh mẽ hơn bằng cách tải về Support Tools. Đầu tiên bạn cần tìm đĩa CD Windows Server 2003 gốc. Đưa đĩa vào máy Windows XP đang sử dụng để làm máy trạm quản trị. Tại cửa sổ lệnh bạn gõ lệnh sau:
msiexec /i x:\support\tools\suptools.msi /q addlocal=all
với x: là tên ổ đĩa CD-ROM, sau đó nhấn Enter. Thêm cài đặt của tất cả các file hỗ trợ vào máy trạm Windows XP. Điều này sẽ tiêu tốn khoảng hơn 10Mb dung lượng ổ cứng. Nó chắc chắn là lựa chọn tốt nhất để có toàn bộ các công cụ thường dùng trên một máy trạm quản trị mới.
Nếu việc cài đặt không thực hiện được, hãy kiểm tra lại file SUPTOOLS.MSItrong thư mục SUPPORT\TOOLS của ổ CD. Nếu không thấy nó, bạn có thể phải chọn lại đĩa vì trong Windows Server 2003 Small Business Edition, file cần thiết nằm ở đĩa 2.
Khi các file chạy, bạn sẽ thấy một màn hình cài đặt Windows wizard xuất hiện. Bạn sẽ nhận thấy có một vài hoạt động diễn ra trên ổ cứng máy trạm XP và ổ CD-ROM. Sau đó, sẽ có một thư mục mới có tên Windows Support Tools trong menu Start | All Programs.
Không có bất kỳ chương trình thực sự nào trong thư mục này nhưng nó hỗ trợ các tiện ích nằm trong thư mục Program Files\Support Tools trên máy trạm. Có hàng tá tiện ích được bổ xung cho khả năng hỗ trợ và xử lý sự cố trên máy chủ Windows Server 2003 của bạn. Các tiện ích đó bao gồm:
- Acldiag.exe – ACL Diagnostics
- Clonepr – ClonePrincipal
- Dsastat.exe – Directory Services Utility
- Movetree.exe – Active Directory Object Manager
- Replmon.exe – Active Directory Replication Monitor
- Dmdiag.exe – Disk Manager Diagnostics
- Ftonline.exe – Fault Tolerant Disk Mounter
Hãy đảm bảo bạn luôn cẩn thận khi sử dụng các công cụ này. Một lỗi xảy ra cũng có thể là nguyên nhân gây nguy hiểm tro mạng của bạn. Sử dụng từng công cụ cụ thể không nằm trong phạm vi bài viết này nhưng bạn có thể tìm thấy chúng trong nhiều bài báo khác của chúng tôi.
Nhãn:
Lý Thuyết CCNA,
mang,
Network,
Tài Liệu,
TT Windows
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013
Các thiết bị mạng căn bản nhất
Để hệ thống mạng làm việc trơn tru, hiệu quả và khả năng kết nối tới những hệ thống mạng khác đòi hỏi phải sử dụng những thiết bị mạng chuyên dụng. Những thiết bị mạng này rất đa dạng và phong phú về chủng loại nhưng đều dựa trên những thiết bị cơ bản là Repeater, Hub, Switch, Router và Gateway.
Bài viết này sẽ giúp bạn đọc có được một những hiểu biết cơ bản về các thiết bị mạng kể trên:
Repeater
Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.
Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.
Hub
Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.
Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.
Bridge
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.
Switch
Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.
Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).
Router
Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.
Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.
Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.
Gateway
Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.
Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...
(Vietnamnet)
Các Bước Cài đặt Exchange Server 2003
Yêu cầu phần cứng cài đặt Exchange Server 2003 khá cao đặc biệt là RAM phải >= 512 MB.
Các bước tiến hành cài đặt máy chủ Mail Server.
1. Cài đặt hệ điều hành Windows Server 2003.
2. Cài đặt Antivirus.
3. Update Windows, Update Antivirus, Disable các service không cần thiết, cấu hình Group Policy nâng cao tính bảo mật. Enable Firewall chỉ cho phép các Service cần thiết.
4. Cài đặt DNS, cấu hình DNS (toàn bộ phần này bạn có thể vào google tìm với từ khoá: site:vnexperts.net nhung van de DNS).
5. Cài đặt IIS, và các component: SMTP, NNTP, ASP.NET.
6. Cài đặt Active Directory. (trong loạt bài viết về Active Directory trên trang vnexperts.net).
7. Cài đặt Microsoft Exchange Server 2003.
8. Cài đặt Microsoft Exchange Server 2003 trên một máy chủ khác (Additions).
Trong bài viết này tôi sẽ trình bày:
1. Cài các Component
2. Cài đặt Microsoft Exchange Server 2003.
Phần I. Chuẩn bị cài Exchange Server 2003.
Để bắt đầu cài đặt Exchange yêu cầu bạn đã cài đặt DNS, Active Directory hoàn chỉnh rồi.
Cho đĩa CD cài đặt Microsoft Exchange Server 2003 tìm file Setup.exe chạy
Chạy File Setup.exe được cửa sổ sau: Tôi chọn Exchange Deployment Tools để bắt đầu quá trình cài đặt.
Trong cửa sổ này bạn hoàn toàn có thể xem các hướng dẫn về Exchange Server phía bên trái cửa sổ từ phiên bản, các thư viện, các công cụ …
Nhấn vào Deployment Tools được cửa sổ sau: Chọn Deploy the First Exchange 2003 Server.
Bạn chọn Options Install Exchange 2003 on additions Server khi muốn cài một máy chủ Exchange khác có vai trò tương tự như máy chủ đầu tiên. Cái này vai trò tương tự như Additions của máy chủ Domain Controller.
Trong phần này tôi chọn Options đầu tiên cài đặt máy chủ Exchange đầu tiên. Để bắt đầu cài đặt
Sau khi chọn Deploy the First exchange 2003 server tôi được cửa sổ dưới đây:
Trong cửa sổ này hệ thống cho phép bạn lựa chọn các thuộc tính:
- Hệ thống sẽ làm việc với phiên bản Exchange 5.5
- Hệ thống sẽ làm việc với Exchange 5.5, Exchange 2000
- Hay Update một hệ thống Exchange 2000 lên Exchange 2003
- Cài đặt một hệ thống Exchange 2003 mới hoàn toàn -> Tôi chọn Options này bởi đây là máy chủ Exchange đầu tiên của tôi.
Sau khi chọn Options New Exchange 2003 Installation tôi được cửa sổ dưới đây:
- Đây chính là cửa sổ yêu cầu các thành phần cần phải cài đặt trước khi cài đặt Microsoft Exchange 2003.
- 1 – Windows yêu cầu phải là Windows Mới hơn windows server 2000, tôi hoàn toàn thoả mãn bởi tôi cài đặt từ Windows Server 2003.
- 2 – Cài đặt các component như: IIS, NNTP, SMTP, ASP.NET
Vào Controll Panel à Add or Remove Programs à chọn Add/Remove Windows Component.
Trong cửa sổ Add or Remove Windows Components chọn Application Server chọn tiếp IIS, ASP.NET, SMTP, NNTP.
Sau khi đã có một hệ thống với đầy đủ các Component cần thiết cho hệ thống tôi trở lại phần cài đặt Exchange Server 2003.
Trở lại màn hình các bước cài đặt Exchange tôi đã hoàn thành hai mục là 1, 2 tiếp mục 3 là kiểm tra hệ thống Windows hoạt động thế nào, máy tính của tôi cài Windows Server 2003 và toàn bộ các Service được đặt mặc định hoàn toàn phù hợp với cài đặt tôi vượt qua bước 3.
Sang bước thứ 4: nếu máy chủ của tôi cài DNS, Active Directory và đang kết nối mạng bình thường thì không phải thực hiện bước này. Bước này để test hệ thống mà thôi, rất cần thiết khi máy chủ cài Exchange không phải là máy chủ DNS, và Active Directory.
Bước 5 tương tự giờ tôi quan tâm đó là bước thứ 6. ForestPrep mở rộng Active Directory để hỗ trợ Exchange Server 2003.
Tôi chọn đến file Setup.exe rồi nhấn Run ForestPrep now
Sau khi nhấn Run forestprep now sẽ được cửa sổ:
Nhấn Next để bắt đầy quá trình cài đặt.
chọn I agree - đồng ý chọn Next để tiếp tục cài đặt.
Nhấn Next để hệ thống bắt đầu mở rộng Active Directory
Đợi khoảng 15 phút để hệ thống hoàn thành tác vụ này.
Sau khi hoàn thành ForestPrep tôi phải chạy DomainPrep bước 7 trong quá trình cài đặt Exchange 2003.
Làm tương tự như thiết lập ForestPrep
Sau khi bước DomanPrep hoàn thành tôi chuyển sang bước thứ 8 bước quan trọng nhất trong quá trình cài đặt Exchange Server 2003.
Chon Run Setup Now tôi được cửa sổ.
Để mặc định chọn Next để hệ thống bắt đầu quá trình cài đặt.
Sau khi nhấn Next được cửa sổ tiếp theo
Tôi chọn Option đầu tiên Create a new Exchange Organization, Option thứ hai để chúng ta Join máy chủ vào một hệ thống Exchange 5.5 đã có sẵn.
Chọn Option đầu tiên nhấn Next để tiếp tục quá trình cài đặt.
Nhấn Next để bắt đầu quá trình cài đặt đây là bước lâu nhất tuỳ thuộc vào cấu hình của máy tính nhưng cũng khoảng 45 phút với máy của mình.
Đợi cho hệ thống hoàn thành quá trình cài đăt.
Sau khi hệ thống hiển thị hoàn thành quá trình cài đặt, để khởi động các dịch vụ Mail trong hệ thống bạn phải vào Service của Windows và bật những Service liên quan tới dịch vụ gửi Mail của Exchange.
Mặc định sau khi cài đặt Exchange chỉ có một dịch vụ duy nhất được khởi động đó là dịch vụ Mail qua HTTP.
Vào Administrative Tools à Service sẽ thấy một danh sách các service tôi khởi động các service:
POP3 phục vụ mail POP3, SMTP, IMAP4… nếu để thuận tiện tôi khởi động hết những service liên quan tới từ Exchange
Sau khi đã bật toàn bộ các Service hỗ trợ cho các dịch vụ Mail khác nhau của Exchange tôi vào giao diện quản trị Exchange: Start à Microsoft Exchange à Exchange System Manager.
Ồ thật may mắn tất cả các dịch vụ Mail của tôi hoạt động tốt
Nếu giờ tôi tạo ra một User mới bất kỳ trong Active Directory thì đều có Options đi kèm là có tạo ra một hòm thư cho user đó không.
Muốn vào giao diện check mail kiểm tra qua Web tôi vào địa chỉ như dưới đây
Logon bằng User administrator thử gửi một bức thư cho chính tôi và kết quả thật OK
Theo Vnexperts Research Department
Máy chủ phân giải tên miền DNS
Mỗi máy tính, thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều "nói chuyện" với nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol) . Để thuận tiện cho việc sử dụng và dễ nhớ ta dùng tên (domain name) để xác định thiết bị đó. Hệ thống tên miền DNS (Domain Name System) được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP. Vì vậy, khi muốn liên hệ tới các máy, chúng chỉ cần sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (domain name) như: www.microsoft.com, www.ibm.com..., thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ.
Máy chủ phân giải tên miền (DNS Server) là những máy chủ được cài đặt, và cung cấp dịch vụ phân giải tên miền DNS. Máy chủ DNS được phân ra thành 2 loại như sau :
Primary DNS Server (PDS)
Primary DNS Server (PDS) là nguồn xác thực thông tin chính thức cho các tên miền mà nó được phép quản lý. Thông tin về một tên miền do PDS được phân cấp quản lý thì được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang các Secondary DNS Server (SDS).
Các tên miền do PDS quản lý thì được tạo, và sửa đổi tại PDS và sau đó được cập nhật đến các SDS .
Secondary DNS Server (SDS)
DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS server để lưu địa chỉ cho mỗi một vùng (zone). PDS quản lý các vùng và SDS được sử dụng để lưu trữ dự phòng cho vùng, và cho cả PDS. SDS không nhất thiết phải có nhưng khuyến khích hãy sử dụng . SDS được phép quản lý tên miền nhưng dữ liệu về tên miền không phải được tạo ra từ SDS mà được lấy về từ PDS.
SDS có thể cung cấp các hoạt động ở chế độ không tải trên mạng. Khi lượng truy vấn vùng (zone) tăng cao, PDS sẽ chuyển bớt tải sang SDS (quá trình này còn được gọi là cân bằng tải), hoặc khi PDS bị sự cố thì SDS hoạt động thay thế cho đến khi PDS hoạt động trở lại .
SDS thường được sử dụng tại nơi gần với các máy trạm (client) để có thể phục vụ cho các truy vấn một cách dễ dàng. Tuy nhiên, cài đặt SDS trên cùng một subnet hoặc cùng một kết nối với PDS là không nên. Điều đó sẽ là một giải pháp tốt để dự phòng cho PDS, vì khi kết nối đến PDS bị hỏng thì cũng không ảnh hưởng gì tới đến SDS.
Ngoài ra, PDS luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên thay đổi hoặc thêm các địa chỉ mới vào các vùng. Do đó, DNS server sử dụng một cơ chế cho phép chuyển các thông tin từ PDS sang SDS và lưu giữ trên đĩa. Khi cần phục hồi dữ liệuvề các vùng, chúng ta có thể sử dụng giải pháp lấy toàn bộ ( full ) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incrememtal).
(Vietnamnet)
Máy chủ phân giải tên miền (DNS Server) là những máy chủ được cài đặt, và cung cấp dịch vụ phân giải tên miền DNS. Máy chủ DNS được phân ra thành 2 loại như sau :
Primary DNS Server (PDS)
Primary DNS Server (PDS) là nguồn xác thực thông tin chính thức cho các tên miền mà nó được phép quản lý. Thông tin về một tên miền do PDS được phân cấp quản lý thì được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang các Secondary DNS Server (SDS).
Các tên miền do PDS quản lý thì được tạo, và sửa đổi tại PDS và sau đó được cập nhật đến các SDS .
Secondary DNS Server (SDS)
DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS server để lưu địa chỉ cho mỗi một vùng (zone). PDS quản lý các vùng và SDS được sử dụng để lưu trữ dự phòng cho vùng, và cho cả PDS. SDS không nhất thiết phải có nhưng khuyến khích hãy sử dụng . SDS được phép quản lý tên miền nhưng dữ liệu về tên miền không phải được tạo ra từ SDS mà được lấy về từ PDS.
SDS có thể cung cấp các hoạt động ở chế độ không tải trên mạng. Khi lượng truy vấn vùng (zone) tăng cao, PDS sẽ chuyển bớt tải sang SDS (quá trình này còn được gọi là cân bằng tải), hoặc khi PDS bị sự cố thì SDS hoạt động thay thế cho đến khi PDS hoạt động trở lại .
SDS thường được sử dụng tại nơi gần với các máy trạm (client) để có thể phục vụ cho các truy vấn một cách dễ dàng. Tuy nhiên, cài đặt SDS trên cùng một subnet hoặc cùng một kết nối với PDS là không nên. Điều đó sẽ là một giải pháp tốt để dự phòng cho PDS, vì khi kết nối đến PDS bị hỏng thì cũng không ảnh hưởng gì tới đến SDS.
Ngoài ra, PDS luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên thay đổi hoặc thêm các địa chỉ mới vào các vùng. Do đó, DNS server sử dụng một cơ chế cho phép chuyển các thông tin từ PDS sang SDS và lưu giữ trên đĩa. Khi cần phục hồi dữ liệuvề các vùng, chúng ta có thể sử dụng giải pháp lấy toàn bộ ( full ) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incrememtal).
(Vietnamnet)
Những vấn đề về DNS trong Windows Server (Phần cuối - Zone Properties)
Nhiều người thắc mắc rằng dữ liệu DNS được lưu trữ như thế nào? và sao lại liên quan đến Zones và vì sao lại phải sử dụng nó? Khi một Domain lớn muốn quản trị nó một cách đơn giản người ta nghĩ ra cách đó là chia thành các Zones có cùng các chính sách quản lý hơn. Nghiên cứu về Zone chúng ta sẽ liên quan đến các vấn đề như:
Nơi lưu trữ dữ liệu Zone
Dữ liệu đó được cập nhật như thế nào
Dữ liệu Zone được truyền giữa các máy ra sao.... Trong phần 3 các vấn đề liên quan tới DNS tôi sẽ giới thiệu với các bạn.
Chúng ta nghiên cứu về Zone Properties sẽ ra được toàn bộ các vấn đề trên.
Trong Zone Properties có những tab sau:
General: Với thiết lập về nơi lưu trữ dữ liệu Zone, cách cập nhật dữ liệu zone, và cấu hình dạng Zone (type of Zone)..
Start of Authority: Chúng ta sẽ biết máy chủ nào là máy chủ Primary chứa dữ liệu Zone đó, cấu hình thời gian cho việc cập nhật dữ liệu giữa các máy chủ Zone với nhau
Name Server: Cấu hình trong này sẽ ảnh hưởng tới các máy chủ chứa dữ liệu Zone, cho phép tranfer dữ liệu zone ngoài ra dữ liệu NS này cũng có khả năng tự động cập nhật nếu cài thêm domain controller cho domain này.
Security: Trong tab security chúng ta sẽ có thể gán cho từng group cụ thể, user cụ thể có khả năng làm được một việc cụ thể.
Zone Tranfer: Trong tab này chúng ta sẽ cấu hình cách thức dữ liệu zone được truyền
WINS: cấu hình máy chủ WINS cho Zone này.
1. Nghiên cứu về tab General
Trong tab này chúng ta có thể cấu hình về status của Zone này như Pause, Resume, Stop với một nút bấm đầu tiên.
Trong Zone Type là một trong những vùng cấu hình quan trọng nhất đối với Zone.
Ở đây cho phép ta cấu hình dữ liệu đang chứa trên máy tính ở dạng Zone nào:
Primary: Dữ liệu Zone được chứa trên máy chủ chứa Primary Zone, Primary cho phép cập nhật dữ liệu và tranfer với các máy chủ chứa Secondary Zone
Secondary: Chứa dữ liệu Copy của Primary Zone, chỉ có khả năng cập nhật với dữ liệu trên Primary không có khả năng tự update dữ liệu, là một bản sao của Primary Zone.
Stub: Là bản sao dữ liệu NS (Name Server) trên Primary Zone, không có khả năng resolve tên cho các máy con.
Như bài đầu tiên tôi có giới thiệu về ý nghĩa của từng Type of Zone các bạn có thể xem lại để hiểu được khi nào phải dùng dạng Zone nào cho hợp lý và tối ưu hoá việc resolve tên cho các máy client và đảm bảo đường truyền cho hệ thống.
Dấu check box ở cuối hình các bạn nhìn thấy đó chính là việc có lưu dữ liệu Zone trên Active Directory hay không. Các bạn biết rằng khi dữ liệu chứa trên Active Directory thì nó mới có khả năng Replication được còn không thì sẽ không được. Khi các bạn đánh dấu vào dấu check box đó có nghĩa dữ liệu Zone của bạn sẽ được Lưu trên Active Directory và bạn có thể cấu hình vùng chúng Replication trên Active Directory.
Ngoài ra chỉ khi bạn lưu dữ liệu DNS trên Active Directory thì dữ liệu Zone mới cho tính năng Dynamic Update nhưng ở dạng Secure Only phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này.
Khi cấu hình cho dữ liệu Zone lưu trên Active Directory bạn cần phải quan tâm tới rằng dữ liệu Zone đó được đồng bộ trên những máy tính nào trong hệ thống.
dấu check box đầu tiên: Sẽ đồng bộ toàn bộ dữ liệu Zone với tất cả máy chủ DNS trên toàn forest
dấu check box thứ hai: Sẽ đồng bộ toàn bộ dữ liệu Zone với tất cả máy chủ DNS trên toàn domain
dấu check box thứ ba: Sẽ đồng bộ toàn bộ dữ liệu Zone với toàn bộ máy chủ Domain Controller trên toàn Domain.
Sau khi cấu hình xong về vấn đề dạng dữ liệu Zone (Type Zone), Cách lưu trữ dữ liệu Zone trên Active Directory chúng ta cần cấu hình một phần không kém quan trọng đó là Dynamic update:
Dynamic update: Máy chủ DNS chứa các record quan trọng đó là Host A Record (ví dụ server.vne.com --- 192.168.1.2) với ánh xạ như vậy để khi có một request server.vne.com máy chủ DNS sẽ trả lời lại request là 192.168.1.2. Vậy một máy client50.vne.com để cấp địa chỉ IP tự động thì thế nào, hôm nay dữ liệu Host A trên DNS là client50.vne.com ---192.168.1.55 ngày mai khi được cấp địa chỉ IP động máy client50 sẽ nhận địa chỉ IP khác không phải 55 nữa vậy khi có request tới client50.vne.com thì máy chủ vẫn trả về địa chỉ là 192.168.1.55 vậy là quá trình truy cập sẽ bị sai. Khắc phục vấn đề này máy chủ DNS cho phép dự liệu tự động update.
Dynamic update: Cho phép máy chủ DNS tự động thay đổi các dữ liệu Record
Cấu hình Dynamic update có các vấn đề sau:
None: Không tự động cập nhật dữ liệu
None Security and Security: Cho phép tự động cập nhật dữ liệu không yêu cầu bảo mật giữa máy client và máy DNS và cho phép cả quá trình cập nhật bảo mật vì sao phải lựa chọn này là mặc định bởi cho phép cả các máy client không trong domain và trong domain.
Secure Only lựa chọn này chỉ có khi bạn lưu dữ liệu Zone trong Active Directory, khi bạn lựa chọn này yêu cầu tất cả sẽ phải cập nhật trong bảo mật.
Trong tab general còn một vấn đề khác đó là đó là xoá các thông tin cũ Aging trong cấu hình này cho phép bạn xoá các dữ liệu đã quá cũ rồi.
2. Nghiên cứu về tab Start of Authority (SOA).
Trong tab này có mục Serial number đây là thông tin chứa số lượng các record chứa trên máy chủ DNS. Ví như khi bạn thêm một record Host A thì giá trị Serial Number này sẽ tăng lên một giá trị.
Trong thông số Primary server chính là máy chủ chứa dữ liệu Primary Zone. Khi chúng ta có nhiều máy chủ DNS và khi muốn thay đổi một máy chủ đang là Secondary Server sang Primary server thì phải vào đây thay đổi.
Trong này có mục là Responsible Person đó chính là máy chủ trả lời các request.
Trong phần Refresh Interval với mặc định là 15 phút đó là khoảng thời gian để đồng bộ dữ liệu giữa máy chủ chứa Primary Zone và các máy chủ Secondary Zone. Trong phần này ta cấu hình thay đổi không sử dụng mặc định nữa bởi vì nếu dữ liệu DNS ít có sự thay đổi ta có thể để khoảng thời gian này lớn để giảm băng thông đường truyền cho mạng.
Retry Interval: nếu quá trình Refresh mà xảy ra lỗi thì sau một khoảng thời gian nào đó sẽ refresh lại.
Expire after: thông tin DNS nếu không refresh sẽ không còn giá trị sau một ngày.
Dữ liệu DNS được làm tươi liên tục với thời gian là 1h với mặc định tất cả các dữ liệu.
Khi nghiên cứu về Tab này chúng ta có thể thấy được ý nghĩa của nó với DNS là cho chúng ta biết số lượng record, máy chủ Primary, và có thể thay đổi được máy chủ trả lời cho các client ngoài ra chúng ta còn có thể cấu hình thời gian cho việc refresh dữ liệu giữa Primary và Secondary.
3. Nghiên cứu về Tab Name Server.
Trong tab này chúng ta sẽ thấy suất hiện các domain controller của domain đó, nếu bạn cấu hình cho dữ liệu DNS lưu trên Active Directory.
Ngoài ra chúng ta có thể thêm những máy chủ NS vào tab này để ta có thể dựa vào các thông tin ở đây để đồng bộ dữ liệu DNS, ta có thể cấu hình chỉ đồng bộ dữ liệu với các máy chủ có trong NS table này mà thôi. Ngoài ra dữ liệu NS là dữ liệu được Stub Zone copy về và dựa vào nó để gửi các request tới các máy chủ trong NS tab này. Dữ liệu NS có thể tự động cập nhật (khi cài domain controller) hoặc bạn có thể add manual vào.
4. Nghiên cứu về tab Security.
Đúng như tên gọi của nó trong tab này chúng ta cấu hình gán Permission cho người dùng hoặc nhóm người dùng có khả năng làm được gì trong dữ liệu Zone như tạo, thay đổi, copy... các record trong Zone.
5. Nghiên cứu về Zone Transfers.
Dữ liệu Zone là một trong các dữ liệu quan trọng bậc nhất trong hệ thống mạng, nó cho phép bạn quản lý các máy tính theo tên thay vì một hệ thống địa chỉ IP phức tạp. Nhưng nếu dữ liệu Zone cuar bạn bị lộ thì một kẻ tấn công có thể dựa vào dữ liệu này để phân tích hệ thống mạng của bạn và từ đó sẽ tấn công xâm nhập vào hệ thống của bạn dễ dàng hơn.
Do đó dữ liệu Zone chỉ nên đồng bộ và cho phép truyền tới một số máy mà thôi mặc định với "to any server" cái này có nghĩa khi có yêu cầu truyền thông tin về Zone máy chủ sẽ truyền dữ liệu Zone. Nhưng nếu như vậy thì ai cũng có thể lấy được thông tin về Zone, nhưng DNS còn có các lựa chọn khác như "Only to server listed on the NS table" có nghĩa dữ liệu Zone chỉ truyền tới các máy chủ có trong danh sách của NS table mà thôi. Ngoài ra DNS còn có Options cho phép bạn chỉ đồng bộ tới một máy chủ nhất định nào đó mà thôi.
6. Nghiên cứu về Tab WINS.
Bạn là nhà quản trị mạng trong hệ thống của bạn có hai domain vne.com máy chủ DNS và Domain controllers là các máy chủ chạy Windows Server 2003, Win client là Windows XP. Ngoài ra trong hệ thống còn có domain sov với các máy chủ Windows NT Server 4.0, các máy con chạy Windows NT 4.0
Các máy client trong domain sov nói vào dữ liệu cả hai vùng một cách bình thường, nhưng các máy client trong domain vne.com lại không thể truy cập vào các dữ liệu trên domain sov. Vậy nguyên nhân tại sao?.
Windows NT 4.0 Server chạy dịch vụ WINS là dịch vụ Name Resolution vì công nghệ NT 4.0 chưa có DNS.
Do vậy khi máy client muốn vào dữ liệu trên domain sov thì bạn phải cấu hình trong tab WINS
với dấu check box "Use WINS lookup forward" sau đó bạn add thêm một máy chủ chạy dịch vụ WINS vào là được.
7. Kết luận.
Trong ba phần các vấn đề về DNS tôi trình bày các bạn có biết về các thông tin về DNS, các dữ liệu chứa trên DNS (record), các dạng về Zone, và khi nào sử dụng các dạng Zone này. Trong các tab của DNS tôi trình bày khá chi tiết và các ứng dụng của mỗi trường hợp khi có sự thay đổi về cấu hình.
Chúc các bạn thành công!
Những vấn đề về DNS trong Windows Server (Phần 2 - DNS Server Properties)
Khi nghiên cứu về DNS chúng ta cần nghiên cứu đầu tiên về các thuộc tính và ý nghĩa của các cấu hình trên DNS Server. Giúp bạn hiểu sâu về ý nghĩa của nó trong (phần 2) này tôi trình bay chi tiết ý nghĩa của từng thuộc tính và việc vận dụng chúng trong môi trường thực tế ra sao.
DNS Server properties bao gồm các vấn đề như:
- Interfaces: Cho phép ta cấu hình những card mạng nào nghe các request
- Forwarders: Chuyển các request một domain nào đó tới một máy chủ DNS nào đó
- Advanced: Cho phép nâng cao các thuộc tính các tính năng trong DNS Server
- Root hints: Cho phép cấu hình gốc của domain, và cần thiết để cho client vào internet
- Debug logging: ghi lại các tiến trình để phân tích nếu lỗi xảy ra
- Event logging: Các tính huống để ghi lại
- Monitoring: Giám sát DNS Server
- Security: Bảo mật dữ liệu DNS
1. Nghiên cứu về tab Interfaces
a. Ví dụ: Chẳng hạn ở đây ta có máy chủ DNS có FQDN là VNEXPERTS.VNE.COM máy chủ có 4 card mạng với địa chỉ lần lượt là:
LAN1: 192.168.0.5 – dành cho public web site
LAN 2: 192.168.1.5 – dành cho name resolution
LAN 3: 192.168.2.5 – dành cho name resolution
LAN 4: 192.168.3.5 – dành cho ứng dụng SQL
Điều này có nghĩa là máy chủ này cần phải cấu hình sao cho chỉ đáp ứng các yêu cầu (Lookup Forward Query) về DNS từ hai card mạng LAN 2 và LAN 3 mà thôi bởi nếu nghe từ tất cả các card mạng sẽ dẫn đến ảnh hưởng băng thông đường truyền với các dịch vụ khác.
Mặc định máy chủ DNS nghe các request từ tất cả các card mạng nhưng trong tình huống này bạn cần phải cấu hình lại để chỉ nghe từ một số card mạng mà thôi.
2. Nghiên cứu về Forwarders.
Ví dụ: Công ty của bạn có ba địa điểm khác nhau là Nghệ An, Thái Nguyên, Hà Nội (vne.com). Mỗi site có một domain riêng lần lượt là: vne.com, na.com, tn.com. Toàn bộ ba site này được kết nối với nhau qua đường VPN. Máy chủ tại na.com rất yếu và chỉ có thể nghe những yêu cầu về DNS tại Site Nghệ an mà thôi. Điều này có nghĩa bạn không thể tạo được secondary zone của vne.com và tn.com tại máy chủ DNS của na.com
DNS server của vne.com là - 192.168.1.5
DNS server của na.com là – 192.168.0.5
DNS server của tn.com là – 192.168.2.5
Lúc này máy client tại na.com muốn truy cập vào một máy chủ tại vne.com có tên web1.vne.com.
Khi cấu hình như trên hình trên có nghĩa là khi user truy cập vào domain vne.com máy chủ DNS sẽ gửi toàn bộ các request đó tới máy chủ DNS khác có tên là 192.168.1.5.
Trong thực tế chúng ta chỉ sử dụng Forwarders khi: thứ nhất – không thể tạo được secondary zone hay stub zone của một domain nào đó (chúng ta có thể sử dụng trên internet – ví dụ khi vào www.microsoft.com ta gửi luôn lên máy chủ DNS của Mỹ thay vì forward tới DNS của ISP). Hoặc máy chủ DNS của chúng ta quá yếu để đáp ứng các request của client.
Dấu check box "do not use recusion for this domain" – khi bạn không dánh dấu ở check box này, trở lại ví dụ trên. Khi một client tại na.com truy vấn vào web1.vne.com máy chủ DNS tại na.com gửi toàn bộ request lên máy chủ DNS tại vne.com dể nhờ resolve hộ. Nhưng chẳng may gói tin được gửi từ máy chủ DNS tại na.com không đến được máy chủ DNS tại máy chủ vne.com thì sao. Nếu bạn không tích dấu check box đó máy chủ DNS tại na.com sẽ tự động gửi lại gói tin yêu cầu bao giờ kết nối được thì thôi. Còn nếu có dấu check box thì máy chủ chỉ gửi một lần lỗi không gửi lại nữa.
Dấu check box đó chỉ áp dụng cho một domain còn nếu muốn cấu hình không gửi lại có nghĩa là "do not use recusion all domain" thì trong tab advanced chúng ta sẽ nghiên cứu.
3. Nghiên cứu về Tab Advanced
Một tab quan trọng nhất của DNS Server properties cho phép ta cấu hình nhiều tính chất quan trọng của DNS.
a. Dấu check box "disable recusion (also disable forwarders)
- Như ta nghiên cứu về forwarder khi bạn đánh dấu check box này có nghĩa là bạn sẽ không bao giờ sử dụng việc gửi lại "do not use recusion all domain". Mặc định máy chủ DNS sẽ không tick vào dấu check box này (hình trên là mặc định của DNS server).
b. Dấu check box "BIND secondaries"
Khi hệ thống DNS của bạn có máy chủ Linux cài BIND service lên đây cũng là dịch vụ DNS trên hệ điều hành *nix. Việc bạn đánh dấu vào đây có nghĩa cho phép máy chủ BIND lấy dữ liệu từ Primary zone về.
c. dấu check box "Fail on load if bad zone data" - Nếu quá trình truyền dữ liệu zone giữa primary và secondary bị lỗi sẽ chuyền lại luôn hay không
d. dấu check box "Enable round robin"
Ví dụ máy chủ VNEXPERTS.VNE.COM có địa chỉ
LAN 1: 192.168.0.5
LAN 2: 192.168.0.6
LAN 3: 192.168.0.7
Cả ba địa chỉ này đều được dùng để cho các client trong mạng truy cập vào web nội bộ của công ty được đặt tại máy chủ vnexperts.vne.com
Nếu các bạn không enable tính năng này:
Một client1 truy cập vào http://vnexperts.vne.com máy chủ DNS sẽ trả về địa chỉ thật là 192.168.0.5, tiếp đến máy chủ client 2 truy cập vào http://vnexperts.vne.com thì DNS vẫn trả về địa chỉ 192.168.0.5.
Nhưng nếu enable tính năng này lên máy chủ DNS sẽ kiểm soát quá trình truy cập vào một máy tính có nhiều card mạng (máy tính có nhiều card mạng được gọi là Multihome computer).
Một client 1 truy cập vào http://vnexperts.vne.com máy chủ cấp địa chỉ là 192.168.0.5 nhưng một client 2 lại truy cập vào http://vnexperts.vne.com thì máy chủ sẽ cấp địa chỉ 192.168.0.6 và cứ như vậy DNS sẽ kiểm soát quá trình truy cập vào một máy tính.
e. Dấu check box "Enable netmask ordering"
Chẳng hạn có một máy chủ với tên vnexperts.vne.com có địa chỉ là
LAN 1: 192.168.1.5
LAN 2: 192.168.2.5
LAN 3: 192.168.3.5
Một client với địa chỉ 192.168.2.53 truy cập vào http://vnexperts.vne.com máy chủ DNS sẽ cấp lại cho client địa chỉ nào?. Nếu bạn không enable tính năng này máy chủ DNS sẽ trả lại client địa chỉ vnexperts.vne.com là 192.168.1.5 theo đúng thứ tự ghi trên dữ liệu của DNS.
Nếu enable tính năng này máy chủ DNS sẽ so sánh địa chỉ IP của client và của vnexperts.vne.com sau đó sẽ trả lại địa chỉ của vnexperts.vne.com là 192.168.2.5
f. Dấu check box "Secure cache against pollution"
Khi một client yêu cầu máy chủ DNS về www.microsoft.com máy chủ DNS sau khi truy vấn các máy chủ ngoài Internet lấy được địa chỉ IP của www.microsoft.com. Sau khi có địa chỉ IP rồi máy chủ DNS sẽ lưu lại thông tin đó vào cache, nhưng nếu không enable tính năng này chẳng hạn một kẻ giả mạo gói tin DNS và yêu cầu máy chủ cập nhật vào cache thì máy chủ sẽ lưu. Khi enable tính năng này thì chỉ có các địa chỉ được query thì mới lưu vào cache mà thôi.
Dấu check box "enable automatic scavenging of stale records" là tính năng xoá dữ liệu cache trong khoảng thời gian bao nhiêu lâu đó.
4. Nghiên cứu về tab root hints
Mặc định tab root hints chứa địa chỉ 13 máy chủ gốc của Internet điều này có ý nghĩa khi client truy vấn vào một địa chỉ trên internet thì cơ sở dữ liệu của DNS trong internal không có thì máy chủ sẽ gửi yêu cầu resolve tên lên 13 máy chủ gốc này nhờ resolve hộ.
Nếu bạn không muốn vào internet bạn chỉ cần remove toàn bộ 13 máy chủ root hints đi là được.
Một ứng dụng root hints đó là bạn có thể thêm vào root hints để tạo gốc cho DNS của bạn (lưu ý chỉ sử dụng được trong private domain mà thôi.
Ngoài ra chúng ta còn có những tab còn lại nhưng các tab đó tôi nghĩ rất dễ dàng để hiểu bởi nó viết khá chi tiết và kiến thức về nó không khó các bạn có thể tự nghiên cứu trong phần 3 của bài viết tôi sẽ giới thiệu về Zone Properties với nội dung về các dạng của zone, cách lưu trữ dữ liệu zone, cách cập nhật các dữ liệu của zone, cách chúng truyền giữa các zone như thế nào trong phần 3 cũng là phần cuối về DNS tôi sẽ giới thiệu.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
